Cứ nhìn trẻ con chơi đùa cười nói, ai cũng cảm nhận một thế giới thần tiên tốt đẹp nhất của cuộc sống, nhưng con người lại không ngừng hủy hoại tất cả những gì tốt đẹp của cuộc sống.
Ngày xưa, xưa lắm, đó là cái thủa
những con người đã kết thành bầy đàn, đã biết lập nghiệp ở một nơi nhất định và
được gọi là các bộ tộc, các bộ lạc. Họ có cùng nguồn cội, có cùng tiếng nói và
có chung những thăng trầm qua nhiều thế hệ giữa đất trời rộng lớn.
Quan đàu to nhìn khắp lượt, rõ ràng y là cái rốn của vũ trụ:
- Có những điều căn bản sau để làm cơ sở. một
dân số nhân loại chỉ nên vài chục triệu đến trăm triệu người. Hai, phải có nền
văn minh cao hơn một chút nữa nhất là công nghệ chế tạo robot phục vụ con người
nhưng không phải loại robot sát thủ như trong phim giả tưởng.
Quan đầu to im lặng giây lâu, ở học đường là cách khiến học trò chú ý
nhưng ở đây là người phát biểu chờ đợi sự im lặng cũng như vẻ trịnh trọng cho
biết việc nói ra rất là quan trọng (cho dù chắc ai cũng biết lắm khi nội dung
khiến khán giả ngủ gật hay cố ý suy nghĩ về một cái gì khác để khỏi mệt mỏi,
nhàm chán phẩi bực mình mà lẩm bẩm một câu chưỡi tục).
Thần đèn chẳng tò mò, với thần
chuyện âm mưu của bọn quan lại quá nhàm chán, sống đủ lâu thần nghiệm ra rằng
cái khoảng thời gian ngắn ngủi vài mươi năm trên quan trường, từ thấp thì nịnh
hót cúc cung tận tụy với quan trên, đấu đá với nhau, kiếm chác, kết bè lập
đảng.
Chẳng có gì khoái hơn cho đàn ông là được ngồi ăn nhậu với nhau và tha hồ
nói về đủ thứ trên đời, chuyện hài hước, chuyện chó cán xe xe cán chó, vấn đề
nghệ thuật từ hội họa âm nhạc đến kiến trúc, kể cả chữ nho, một thằng té giếng
cũng biết câu “ôn cố tri tân”
Từ
bãi cát trắng đảo Phú Quý nhìn ra trời biển, chỉ một màu xanh, Quan hưu đến đây
nghỉ ngơi theo lời tư vấn của bác sĩ. Quan mừng là chuyến sang Tàu thay tim
suông sẻ và nhanh đến không ngờ.
Đó là ngôi chùa cổ theo đúng nghĩa bóng, nó nằm bên sườn núi
cách một cánh rừng với các xóm làng, người dân còn lo cơm áo gạo tiền nên việc
viếng chùa cúng lễ thường người và cũng hiếm hoi.
Gã bước khỏi nhà dù đã hơn 2 giờ khuya. Đang là mùa mưa nên
có thể trời khá lạnh nhưng gã không thấy lạnh, gã vẫn thấy nóng và khi dọc bờ
sông có nhiều con gió hơn nhưng vẫn không làm gã thấy dễ chịu. Gã mệt và lòng
như đang bị nung đốt.
Phán quan chờ, gã chờ
còn bọn quỷ tốt thì an nhiên như hàng cây trong tiết trời sang thu.
Bước vào là một người đàn bà trạc tuổi sáu mươi, gông chân
không có mà cùm ở cổ, bước đi lại nhẹ nhàng, đủ lâu để gã hiểu oan chướng trói
buộc bà chính ở lòng bà không do tội lỗi. Ấy vậy gã hiểu những tội lỗi vẫn quá
nhỏ còn tâm vương chất chứa lại khó mà buông.
Ông tư Hiền chỡ thằngcháu nội 7
tuổi từ trường Minh Đạo về, ông chạy bọc cầu Nguyễn Tri Phương vì xe cần đổ
xăng, gần đến góc ngã tư Nguyễn Trãi - Nguyễn Tri Phương ông dừng lại và móc
túi lấy 10 ngàn đưa thằng cháu, thằng bé hiểu ngay vì bên lề trước mặt có một
phụ nữ gầy gò rách rưới ngồi cạnh thằng bé tuổi trạc tuổi nó, thằng bé trông
nhếch nhác bẩn và nước da cũng ngăm đen, nó chắc chắn người bạn nhỏ của nó bị
phơi nắng suốt ngày ngoài đường cùng mẹ.
Gã Ngớ chẳng nhìn ai quanh bàn chỉ có 4 người, Cái thú duy
nhất không phải là thói quen ngồi quán, gã ngồi để tạm tránh cái oi đến bức cả
người vì trời nóng. Dĩ nhiên hôm nay không ngoại lệ, gã cũng sẽ không trả tiền
vì ít ai mà ông Tư cho phép tranh mất cái cái quyền người lớn tuổi nhất trong
bàn. Quả thật, ông Tư ngoài là người được người trong xóm kính trọng về sự mẫu
mực khôn ngoan mà người ta còn thương ông quả là người dễ gần. Đến như gã Ngớ vốn
ít giao tiếp và lại là người không hay chuyện, chưa muốn nói là gã vốn đần
thường hay làm mích lòng người nghe.
Nàng đi bên cạnh gã bước chân dịu
dàng, dù không nhìn nhưng nàng là chỗ dựa duy nhất cho tâm hồn gã, nàng đã
chung thủy bên gã đã bao lâu! Đất trời còn không nhớ nổi. Gã quá đổi mệt mỏi
nàng cũng vậy, gót chân mềm của nàng ai biết được đã vượt cả ngàn năm.
Gã chưa xỉn sau khi cùng vài người
bạn cố phá hết mồi là chính. Hiếm hoi mới họp mặt vài người là bạn của nhau hơn
40 năm, từ cái thủa còn là chú học trò tiểu học. Gã uống nhiều hơn bình thường, không
tỉnh táo nhưng chưa say vì gã còn chạy xe về đến nhà mà chưa ủi vào cột điện.
Con người vốn dĩ thiện tâm (tánh
bổn thiện) nhưng lớn lên tham muốn, tư dục, tự ngã vốn là ác (gốc ác) mà chẳng
ác (vì còn có đạo lý xã hội, còn có tình yêu thương và pháp luật) nên tham mà
chỉ cố dựa vào sức mình lao nhọc chính đáng mà có. Nhưng khi có điều kiện thỏa
mãn gốc ác thì 80% đều trở thành những kẻ độc ác tham tàn theo nhiều cấp độ.
Con người và Pháp luật
Khi cuộc biến động lớn tại Pháp từ 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủ và cộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế và cả giáo hội Rôma tại Pháp mở đầu cho một ý thức rõ nét, quyền của từng con người trong xã hội và quyền
lực mỗi quốc gia phải thuộc về đồng bào chứ không thể để một nhóm người (vua –
quan hay tôn giáo) nắm giữ.
Vì có chúng sanh nên có pháp, vì có tám vạn trần lao nên có
tám vạn pháp môn. Tất cả pháp đều là quyền lập. Trong cửa Văn Thù là thật trí
(trí bát nhã) thì không một lời một lý. Ngoài cửa Phổ Hiền là quyền trí dựng
lập tất cả pháp. Nếu là phật tử chân chính phải rõ nghĩa này để không nhầm lẫn
giữa phương tiện và cứu cánh, đừng nhận giặc làm con.
Nếu nói về Phật Pháp tức chỉ tuyên nói về thủy giác (cái
biết ban đầu) vậy đâu là khởi thủy (lúc ban đầu) và đâu là thời gian bản giác
(tánh biết của tâm) khi chưa duyên theo bên ngoài mà cấu nhiễm (trước vụ nổ
bigbang)? Từ lúc trước big bang 3000 thế giới tan vỡ thành 1 cục (dù ở dang thức nào)
trở về trước, lúc ấy lại là cái giác gì? Nếu lại có một cõi nào chẳng dính dáng
vũ trụ lại thành truyện thần thoại không thể y cứ. Nên nếu khởi tưởng về Phật
pháp thì Phật cũng chẳng có lưỡi, chẳng có chúng sanh để nghe.
Câu chuyện lão quỷ tốt già: Giống dân man rợ không thể giáo
hóa
Lão quỷ tốt già ngồi trên cành cây, bọn quỷ tốt ngồi dưới
gốc, chúng chẳng nhìn lên vì sẽ mỏi cổ, nhưng chúng biết lão vẫn quan sát
chúng. Chúng thích nghe kể chuyện như ngày nào nơi trần thế thủa ấu thơ, say mê
nghe mẹ nghe ba kể chuyện. Niềm vui đó đã xa lắm rồi và hẵn vô nghĩa với người
trưởng thành, nhưng với chúng, tâm hồn vẫn ngây thơ và đầu óc khá ư là ù lì thì
đó vẫn đưa chúng vào niềm say mê lý thú. Lão quỷ tốt tằng hắng giọng dù nơi đây
chẳng ai khan cổ bao giờ!
Nhà sư Vô thường đã lấy lại vẻ an nhiên, gã Ngớ nhìn và biết
chẳng thể nào biết về người khác qua cái lớp bề ngoài. Phán quan hẵn cũng chỉ
cảm nhận được mà thôi dù ngài có khả năng đọc được suy nghĩ của người khác.
Phán quan nhìn gã Ngớ như muốn nói gì đó. Gã không chắc sẽ đi đến đâu, nhưng gã
sẽ cố nói ít lời cho xong việc của gã, còn việc của chính sư Vô thường là do
chính lão chứ nào ai giúp được. Gã chợt nhớ lúc bé gã có xem một tấm ảnh một
con khỉ sắp chết đuối, con khỉ nắm đầu nó để tự kéo mình lên. Hình cho thấy
“người ta không thể tự cứu mình”. Gã chợt cười một ví dụ phủ nhận chính mình.
Có lẽ đám tăng đang sống bám và trục lợi từ bá tánh nhờ vào “những bài thuyết
pháp” chính là con khỉ sắp chết đuối. Nhưng khác là AI LÀ NGƯỜI ĐỨNG TRÊN BỜ!
Tạm gọi là sau khi đắc đạo Thế tôn dành trọn đời 49 năm để
kiến lập trước sau ba thừa và cuối đời ân cần căn dặn lại (đã nhắc nhở rất
nhiều lần) vạn pháp như huyễn, ngôn thuyết cùng Phật đạo chẳng hề dính dáng.
Chúng ta có một ghi nhận lịch sử là chỉ có Tổ Ca Diếp được
Thế Tôn chia đôi tòa cho ngồi, lấy y mà trùm và bảo : “Ta có Chánh pháp Nhãn
tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, Pháp môn vi diệu, nay trao lại
cho Ma-ha Ca-diếp” và một bài kệ cuối đời khi Thế tôn nhập diệt (chết là từ
dành cho mọi người, Tịch là dành cho các Thiện tri thức được thọ ký từ sau Tổ
Hụê Năng, nhập diệt là dành cho Phật, Tổ)
Câu chuyện lão gàn: những nàng tiên trên đỉnh bồ đề
Ngày xưa, có 9 nàng tiên bé nhỏ, các nàng có đôi cánh thần
kỳ rất nhỏ, các nàng có thể bay lượn nhanh như ánh sáng, các nàng sống trên một
đỉnh núi mà các nàng chẳng bao giờ gọi tên.
Câu chuyện lão gàn: Khoét thịt thành thương tích
_ _ _ _ _
Trước tiên ta có câu chuyện kể các ông nghe:
- Xưa xưa lắm có một bộ tộc chưa đến trăm người sinh sống
giữa rừng già. Họ sống hoang dã như con thú rừng, lượm trái cây, đào củ, hái
rau rừng, bẩy thú và bắt cá bằng ném ngọn lao. Họ sống không ở một nơi nhất
định, đến mùa mưa lũ họ lên triền núi làm chòi, và trái cây rau dại là thực
phẩm chính nên họ cũng như thú săn mồi không định cư một chỗ nhất định.
Gã thường chẳng bao giờ nhìn sư sãi trên đời. Bởi lẽ đằng
sau miếng vải may thành áo mà người ta gọi là áo cà sa, kẻ mặc áo đó luôn được
mọi người vị nể bắt đầu bằng việc chắp 2 tay và mở đầu bằng hai từ “thưa thầy!”
cho dù phần đông bọn họ trẻ thì học hành biếng nhác, lớn chẳng muốn nhọc thân
lao nhọc chui ngay vào chùa tìm chỗ dung thân.
Gã Ngớ đi ngang quán café đầu hẻm thì nghe tiếng gọi:
- Ê! Ngớ vô đây!
Gã muốn tránh mà khó tránh, phép lịch sự xã giao bầu bí buộc
gã phải dừng lại trả lời vì người gọi là anh Ba thuộc lớp người lớn tuổi và khổ
nổi trong bàn đã có ông Tư Hiền thuộc gốc đa già cha chú, nên gã không biết có
thoát hay không. Chảng phải gã ngại ngồi nghe chuyện tám ở quán café vì nó là
nơi những người lớn tuổi nhàn rỗi giết thời gian khi con cái đã lớn, cái gã
ngại luôn là tiền. Không lẽ gã cứ mặt dày uống café miễn phí mãi. Anh chai rượu
thì tôi điã tép chén canh.
Nàng quỷ cái đã đưa gã đến đây và giới thiệu. Một đặc ân
nàng ban phát cho gã, người dẫn đường là vị cố vấn tối cao của quỷ Um Ba La, gã
nhìn gười cố vấn và nhận ra vầng trán cao thanh khiết và đôi mắt sáng của trẻ
thơ không vẫn đục vì căm ghét ham muốn hận thù.
Ngày xưa, trong một khu rừng có một con cọp rất to khoẻ.
Cũng thủa ấy sói còn sống lang thang riêng rẽ. Cả rừng đều sợ và ghét cọp vì chẳng
ai khoẻ bằng nó và nó lại có đủ vuốt nanh. Thế rồi có một con sói khôn ranh, nó
tập họp một số con sói và bảo với rừng:
- Ta vì rừng mà diệt cọp hung ác, hãy đồng lòng đoàn kết đánh cọp.
Ngày xưa, loài khỉ đã chiếm lĩnh trên các tầng cao, chúng chỉ
hái trái mà ăn, con người thì chỉ lượm lặt trái dưới đất, đào củ và ăn rau. Người
thấy mình chẳng thể tranh với khỉ nên họ trồng thêm cây và dùng sào hái quả.
Nhưng khỉ thì ngoài việc ăn chúng còn phá. Chúng đến hái ăn và hái để ném nhau
chơi, trái chưa ngọt chúng cũng ném bỏ.
Mỗi người tái hiện một nhánh phim đời, trong đó họ là trung
tâm còn người khác chỉ như một vật, một cảnh, một mối quan hệ mà thôi. Vẫn là vậy,
người bị ong đốt sống trọn với cảm giác nhức buốt chẳng biết cái đau của người
khác lâm nạn. Chính cái ta đó! Khiến con người dễ dàng quay lưng lại với mọi
người. Bệnh dịch giết hàng loạt, người sống sót sẽ khóc thương cho người thân rồi
cũng nguôi ngoai, nhưng người sống sẽ mãi đau nổi đau của người thân chết trẻ
và càng không nguôi nếu chết oan ức.
Chu Lệ vương (? - 828 TCN) bạo ngược kiêu ngạo, người trong
nước đều chỉ trích vua.
Thiệu công can gián nói: “Dân không chịu nổi chính lệnh
nữa rồi”. Vua nổi giận, tìm được thầy mo nước Vệ, sai giám sát những kẻ chỉ trích,
đem bẩm lại để giết. Người chỉ trích ít đi, chư hầu không tới chầu.
Quỷ sứ đứng giữa điện Diêm la với hình dáng một cụ già tóc sáng
bạc, Phán quan đứng sau người và cạnh nàng quỷ cái, bọn quỷ tốt lùi lại sát bức
vách đồng lạnh cứng cạnh cha con ông Cống. Gã Ngớ tự hỏi mình nên rời khỏi điện
hay đứng đâu cho đúng lễ khi gã cảm nhận sắp có sự kiện quan trọng mà không cần
hình thức của sự trang trọng. Gã kẻ đứng bên lề nhưng vẫn mon mên theo dòng người
và luôn biết đám đông kia với tâm lý bầy đàn đầy ngu ngốc.
Ngày xưa, xưa lắm. Thủa con người còn sống hoang dã, người
đàn ông muốn có vợ phải chạy rượt đuổi người phụ nữ khắp núi rừng, băng qua thảo nguyên, lội qua suối, trèo qua núi, nói chung rất là vất vả. Thường người
phụ nữ không ưng họ chạy rất nhanh và thậm chí còn gầm gừ nhặt đá mà ném. Cũng
theo bản năng đàn ông phải bỏ cuộc. Thế nhưng lúc bấy giờ do tính hoang
dã, cuộc tình thường không bền, người đàn ông có vợ lại có thể chạy đuổi theo người
phụ nữ khác. Nói chung cả hai đều không mấy mặn mòi về sự lâu bền.
Cha con nhà Cống rúm lại với nhau sát vách thì thầm. Gã Triết
đã đi sau khi giủ bỏ những tư tưởng kỳ quái mà gã đã bao năm đeo đuổi. Cái xã hội
đại đồng dối trá chỉ có cho kẻ tham vọng bá chủ hoàn cầu, ba mớ triết học từ những
kẻ hoang tưởng xây dựng và tự đặt ra thứ quy luật “tất yếu” quái gỡ,
Thái tử sau khi đăng quang lên ngôi đã mười năm, dù các quan bít tai
nhà vua trẻ rằng đất nước thanh bình, của rơi không ai nhặt, đêm ngủ cửa chẳng
cài nhưng nhà vua vẫn biết trong nước trộm cướp khắp nơi, các quan lại địa
phương bị giết chưa nói những vùng mất mùa vì hạn hán hay mưa lũ không được cứu
giúp. Ngày nọ, nhà vua trẻ muốn chấn hưng lại nghiệp đế tổ tiên nên với vị quan
là người thanh liêm chính trực còn lại trong triều đến vấn kế:
Ngày xưa xưa lắm, vào cái thủa mà người ta rời làng là chỉ
có núi rừng trùng điệp, không khí trong lành, người ta chạy người ta có thể ngủ
ngon trên thảm cỏ và thức giấc tỉnh táo ngay khi nghe tiếng động lạ hay mùi của
loài thú săn mồi. Không khí luôn lẫn mùa thơm hoa cỏ, muôn vật chẳng cần có
khái niệm mà sống hòa hợp cùng thiên nhiên hoang dã, các vị thần chưa bị loài
người làm vẫn đục thế giới tinh thần nên vẫn còn tồn tại dù chẳng ai có thể thấy.
Gã Ngớ và bạn gã ngồi uống rượu trong im lặng,
hẵn bạn gã đang có tâm sự. Nhưng tâm sự gì cơ chứ! Hắn đang đứng lớp ở một trường
học, có thu nhập ổn định và cũng có đi dạy tư được 2 chỗ nên cái thân hắn chẳng
phải bị mắng là đồ vô tích sự. Hắn lại là kẻ yên phận bỏ ngoài tai những tranh
chấp vớ vẫn cùng đồng nghiệp, cứ gọi là hiền như cục cứt.